user warning: File '.\dukccq\cache_form.MYD' not found (Errcode: 2 - No such file or directory) query: UPDATE cache_form SET data = 'a:23:{s:6:\"choice\";a:3:{s:5:\"#type\";s:6:\"radios\";s:14:\"#default_value\";i:-1;s:8:\"#options\";a:3:{i:0;s:11:\"Tiện ích\";i:1;s:38:\"Được, nhưng cần bổ sung thêm\";i:2;s:30:\"Chưa, cần bổ sung nhiều\";}}s:4:\"vote\";a:3:{s:5:\"#type\";s:6:\"submit\";s:6:\"#value\";s:14:\"Biểu quyết\";s:7:\"#submit\";a:1:{i:0;s:9:\"poll_vote\";}}s:5:\"#node\";O:8:\"stdClass\":36:{s:3:\"nid\";s:2:\"23\";s:4:\"type\";s:4:\"poll\";s:8:\"language\";s:2:\"vi\";s:3:\"uid\";s:1:\"3\";s:6:\"status\";s:1:\"1\";s:7:\"created\";s:10:\"1337943496\";s:7:\"changed\";s:10:\"1410226492\";s:7:\"comment\";s:1:\"2\";s:7:\"promote\";s:1:\"1\";s:8:\"moderate\";s:1:\"0\";s:6:\"sticky\";s:1:\"0\";s:4:\"tnid\";s:1:\"0\";s:9:\"translate\";s:1:\"0\";s:3:\"vid\";s:2:\"23\";s:12:\"revision_uid\";s:2:\"77\";s:5:\"title\";s:60:\"Theo bạn, bạn có thấy sự tiện ích của Website?\";s:4:\"body\";s:0:\"\";s:6:\"teaser\";s:88:\"* Tiện ích\n* Được, nhưng cần bổ sung thêm\n* Chưa, cần bổ sung nhiều\n\";s:3:\"log\";s:0:\"\";s:18:\"revision_timestamp\";s:10:\"1410226492\";s:6:\"format\";s:1:\"0\";s:4:\"name\";s:9:\"siteadmin\";s:7:\"picture\";s:0:\"\";s:4:\"data\";s:119:\"a:3:{s:13:\"form_build_id\";s:37:\"form-af9dcdf8e5994e5d7390f34144588a73\";s:7:\"contact\";i:0;s:17:\"mimemail_textonly\";i:0;}\";s:7:\"runtime\";s:1:\"0\";s:6:\"active\";s:1:\"1\";s:6:\"choice\";a:3:{i:0;a:3:{s:6:\"chtext\";s:11:\"Tiện ích\";s:7:\"chvotes\";s:4:\"6038\";s:7:\"chorder\";s:1:\"0\";}i:1;a:3:{s:6:\"chtext\";s:38:\"Được, nhưng cần bổ sung thêm\";s:7:\"chvotes\";s:4:\"4819\";s:7:\"chorder\";s:1:\"1\";}i:2;a:3:{s:6:\"chtext\";s:30:\"Chưa, cần bổ sung nhiều\";s:7:\"chvotes\";s:4:\"1225\";s:7:\"chorder\";s:1:\"2\";}}s:10:\"allowvotes\";b:1;s:4:\"vote\";i:-1;s:22:\"last_comment_timestamp\";s:10:\"1337943496\";s:17:\"last_comment_name\";N;s:13:\"comment_count\";s:1:\"0\";s:8:\"taxonomy\";a:0:{}s:5:\"files\";a:0:{}s:8:\"readmore\";b:0;s:5:\"links\";a:2:{i:0;a:3:{s:5:\"title\";s:11:\"Older polls\";s:4:\"href\";s:4:\"poll\";s:10:\"attributes\";a:1:{s:5:\"title\";s:36:\"View the list of polls on this site.\";}}i:1;a:3:{s:5:\"title\";s:7:\"Results\";s:4:\"href\";s:15:\"node/23/results\";s:10:\"attributes\";a:1:{s:5:\"title\";s:30:\"View the current poll results.\";}}}}s:6:\"#block\";b:1;s:6:\"#cache\";b:1;s:6:\"#theme\";s:9:\"poll_vote\";s:11:\"#parameters\";a:4:{i:0;s:16:\"poll_view_voting\";i:1;a:3:{s:7:\"storage\";N;s:9:\"submitted\";b:0;s:4:\"post\";a:0:{}}i:2;r:14;i:3;b:1;}s:9:\"#build_id\";s:37:\"form-a155e76c52ca24d086395a536f3bff6e\";s:5:\"#type\";s:4:\"form\";s:11:\"#programmed\";b:0;s:13:\"form_build_id\";a:4:{s:5:\"#type\";s:6:\"hidden\";s:6:\"#value\";s:37:\"form-a155e76c52ca24d086395a536f3bff6e\";s:3:\"#id\";s:37:\"form-a155e76c52ca24d086395a536f3bff6e\";s:5:\"#name\";s:13:\"form_build_id\";}s:7:\"form_id\";a:3:{s:5:\"#type\";s:6:\"hidden\";s:6:\"#value\";s:16:\"poll_view_voting\";s:3:\"#id\";s:21:\"edit-poll-view-voting\";}s:3:\"#id\";s:16:\"poll-view-voting\";s:12:\"#description\";N;s:11:\"#attributes\";a:0:{}s:9:\"#required\";b:0;s:5:\"#tree\";b:0;s:8:\"#parents\";a:0:{}s:7:\"#method\";s:4:\"post\";s:7:\"#action\";s:18:\"/?q=tin-tuc/7/2922\";s:9:\"#validate\";a:1:{i:0;s:25:\"poll_view_voting_validate\";}s:7:\"buttons\";a:1:{s:7:\"#weight\";i:100;}s:12:\"#after_build\";a:1:{i:0;s:20:\"wysiwyg_process_form\";}}', created = 1542748521, expire = 1542770121, headers = '', serialized = 1 WHERE cid = 'form_form-a155e76c52ca24d086395a536f3bff6e' in C:\AppServ\www\projects\dukccq\includes\cache.inc on line 108.
Công tác đoàn thể

Những giá trị nhân văn của Hiến pháp đầu tiên - Hiến pháp năm 1946

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do, dân chủ”[1].  Do đó, ngay phiên họp đầu tiên của Chính phủ ngày 3/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra sáu nhiệm vụ cấp bách của Chính phủ, một trong những nhiệm vụ cấp bách đó là xây dựng Hiến pháp. Hiến pháp năm 1946 được Quốc hội khóa I nước ViệtNam dân chủ Cộng hòa thông qua tại kỳ họp thứ 2 ngày 9/11/1946, bao gồm 7 chương và 70 điều.

 

Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946

(Ảnh:Tư liệu)

Đây là bản Hiến pháp dân chủ, tiến bộ, là sự kết tinh của những giá trị cao cả của thời đại, thể hiện rõ tư tưởng Pháp quyền của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thể hiện khát vọng của nhân dân về bảo vệ nền độc lập dân tộc, bảo toàn lãnh thổ, đoàn kết toàn dân, đảm bảo các quyền tự do, dân chủ và xây dựng chính quyền nhân dân mạnh mẽ, sáng suốt. Hiến pháp 1946 ra đời là một bước tiến lớn trong lịch sử phát triển của Nhà nước ViệtNam, là bản hiến pháp đầu tiên ở nước ta cũng như ở Đông Nam Á, một nhà nước dân chủ nhân dân được thành lập. Hiến pháp đã tạo ra bước ngoặt lớn trong sự phát triển của tư tưởng dân chủ, đề cao tính dân tộc của Nhà nước.

Có thể nói, đây là bản Hiến Pháp dân chủ, tiến bộ và không kém bất cứ một bản hiến pháp nào trên thế giới ở thời điểm lúc bấy giờ. Dù chưa thực sự toàn diện, song Hiến pháp thể hiện tầm nhìn chiến lược, nội dung, tư tưởng của Hiến pháp không những mang giá trị lịch sử, chính trị. Đó là những giá trị to lớn và bền vững nhất như sợi chỉ đỏ xuyên suốt nội dung và tinh thần của Hiến pháp. Điều đó được thể hiện:

Thứ nhất, Hiến pháp 1946 thể hiện khát vọng độc lập, tư do của nhân dân ta. Tổ quốc Việt Nam là vô cùng thiêng liêng với mỗi người Việt Nam. Lịch sử mấy ngàn năm của dân tộc ta là lịch sử đấu tranh bảo vệ và xây dựng Tổ quốc. Chủ nghĩa yêu nước đã đi vào tiềm thức, như mạch ngầm mãnh liệt, chảy trong dòng máu của mỗi con người. Với sự khẳng định trong Lời nói đầu “Với tinh thần đoàn kết, phấn đấu sẵn có của toàn dân, dưới một chính thể dân chủ rộng rãi, nước Việt Nam độc lập và thống nhất tiến bước trên đường vinh quang và hạnh phúc, cùng nhịp với trào lưu tiến bộ của thế giới và ý nguyện hòa bình của nhân loại”. Đó cũng chính là ý nguyện của mỗi người dân Việt khi đã trải qua bao gian nan, thử thách, nguyện hi sinh tất cả vì độc lập tự do của dân tộc và hạnh phúc của mỗi người. Cùng với đó, Hiến pháp 1946 được xây dựng trên ba nguyên tắc cơ bản, đó là: Đoàn kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, trai gái, giai cấp, tôn giáo; Đảm bảo các quyền tự do dân chủ; Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân.

Thứ hai, Hiến pháp 1946 quy định nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc là nhiệm vụ cấp bách, hàng đầu. Nước Việt Nam ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã tập hợp, đoàn kết các dân tộc, để cùng đứng lên đấu tranh, bảo vệ độc lập và khi Hiến pháp 1946 ra đời như một “Cương lĩnh  tập hợp mọi lực lượng yêu nước, dân chủ trong cả nước trước khi bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp”.  Điều đó cũng thể hiện những giá trị nhân văn cao cả trong Hiến pháp đầu tiên của nước ta. Điều đầu tiên trong Chương II của Hiến pháp 1946 quy định, công dân Việt Nam phải có nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc. Bảo vệ Tổ quốc chính là bảo vệ giá trị nhân văn, để rồi chúng ta “thà hi sinh tất cả” chứ không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ. Tính nhân văn cao cả của Hiến pháp 1946 còn thể hiện ở các điều, khoản của Hiến pháp quy định về Quyền lợi của công dân (Mục B, Chương II, từ Điều 6 đến Điều 16).

Thứ ba, Hiến pháp 1946 quy định về các quyền bình đẳng. Nhìn từ góc độ lịch sử, trong xã hội thuộc địa nửa phong kiến, dưới ách thống trị của thực dân và sự phân biệt giai cấp nghiêm ngặt của chế độ quân chủ chuyên chế thì sự bình đẳng, quyền bình đẳng là một thứ không tưởng, không có. Vậy mà, ngay ở Điều 6: “tất cả công dân ViệtNam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa” và tiếp sau đó, ở Điều 7 quy định: “tất cả công dân ViệtNam đều bình đẳng trước pháp luật…”. Điều đó khẳng định rằng, nguyên tắc bình đẳng đã trở thành nguyên tắc hiến định, một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của Hiến pháp đầu tiên của nước ta.

Và nếu như, nguyên tắc bình đẳng của tất cả các công dân Việt Nam được hiểu trong mối quan hệ giữa công dân với Nhà nước, giữa cá nhân với xã hội thì nguyên tắc bình đẳng giới - bình đẳng giữa nam và nữ được nâng cao trong Hiến pháp càng nâng cao giá trị nhân văn. Điều 9 quy định “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện”. Có thế nói, trong những ngày tháng trong xã hội thuộc địa, nửa phong kiến thì sự bình đẳng giữa nam và nữ là điều hết sức thiêng liêng và cao quý. Trong hàng thế kỷ, người phụ nữ ViệtNamphải sống theo lễ giáo “tam tòng, tứ đức”, không có chỗ đứng trong xã hội cũng như đời sống chính trị. Vậy mà sau Cách mạng Tháng Tám, với bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta, nguyên tắc bình đẳng nam nữ “về mọi phương diện” được khẳng định và thành hiện thực, đã cổ vũ lớn lao, như luồng gió mới, nguồn sáng làm rực rỡ những giá trị nhân văn mà phụ nữ Việt Nam mong ước qua hàng ngàn năm.

Bên cạnh đó, Hiến pháp 1946 còn đề cập đến vấn đề bình đẳng giữa các dân tộc, bởi vì nước ta là một nước đa dân tộc, dưới chế độ phong kiến, các dân tộc thiểu số thường bị phân biệt đối xử, đó là một sự thật lịch sử. Giá trị nhân văn của giá trị bình đẳng của các dân tộc được nâng cao khi được bổ sung chính sách ưu tiên, giúp đỡ các dân tộc ít người, điều này được thể hiện trong Điều 8: “Ngoài sự bình bình đẳng quyền lợi, những quốc gia thiểu số được giúp đỡ về mọi phương diện để chóng tiến kịp trình độ chung”.

Sự bình đẳng của các công dân Việt Nam mà Hiến pháp 1946 khẳng định cũng thể hiện tư tưởng đoàn kết, tổng hợp sức mạnh, trí tuệ của mọi công dân, không có bất kỳ sự phân biệt nào. Mọi công dân đều có quyền như nhau trong việc tham gia chính quyền, tham gia vào công cuộc xây dựng và kiến thiết đất nước “tùy theo tài năng và đức hạnh của mình” (Điều 7). Cũng chính quy định này được áp dụng ngay trong việc thành lập chính phủ, trong đó Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh “Tôi có thể tuyên bố trước Quốc hội rằng, Chính phủ này tỏ rõ cái tinh thần quốc dân liên hiệp, là một Chính phủ chú trọng thực tế và sẽ nỗ lực làm việc… Chính phủ này là Chính phủ toàn quốc, có đủ nhân tàiTrung,Nam, Bắc tham gia” .

Thứ tư, Hiến pháp 1946 đề cao quyền con người. Hiến pháp đầu tiên ghi nhận những quyền tự do để con người phát triển toàn diện. Điều 10 quy định: công dân Việt Nam có các quyền tự do như tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong và ngoài nước. Có thể khẳng định rằng, quyền con người được khẳng định như một nguyên tắc quan trọng của Hiến pháp 1946, bởi dưới chế độ xã hội cũ, nhân phẩm con người bị chà đạp (được thể hiện qua những tác phẩm văn học với những nhân vật được đi vào lịch sử). Trong Điều 11 và những điều tiếp theo trong mục B, chương II chính là ánh sáng, xóa tan màn đêm u tối cho người lao động nghèo “Tư pháp chưa quyết định thì không được bắt bớ và giam cầm người công dân Việt Nam”. Ngoài ra, Điều 12 Hiến pháp 1946 còn có những quy định về bảo vệ quyền tư hữu tài sản của công dân và Điều 13 quy định quyền lợi của những người lao động trí óc, lao động chân tay. Đồng thời, Hiến pháp 1946 cũng thể hiện một truyền thống đạo lý của người Việt nam là trọng già, yêu trẻ, giúp đỡ người ốm đau, tàn tật, thể hiện qua  Điều 14: “Những người công dân già cả hoặc tàn tật không làm được việc thì giúp đỡ, trẻ con được săn sóc về mặt giáo dưỡng”. Như vậy, tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái có từ hàng ngàn năm đã được “luật hóa” trong đạo luật cơ bản của Nhà nước .

Thứ năm, Hiến pháp 1946 quy định các vấn đề về an sinh xã hội cho nhân dân ta. Bác nêu lên sáu nhiệm vụ cấp bách lúc bấy giờ, trong đó, nhiệm vụ thứ hai là là chống nạn dốt. Bác nói “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, Người còn nhấn mạnh: “Dốt là dại, dại thì hèn. Vì vậy, không chịu dại, không chịu hèn, cho nên thanh toán nạn mù chữ là một trong những việc cấp bách và quan trọng của nhân dân các nước dân chủ mới”. Cho nên, Điều 15, Hiến pháp 1946 quy định: “nền sơ học cưỡng bách và không học phí. Ở các trường sơ học địa phương, quốc dân thiểu số có quyền học bằng tiếng của mình. Học trò nghèo được chính phủ giúp. Trường tư được mở tự do và phải dạy theo chương trình Nhà nước”. Cùng với đó, chủ trương thực hiện phong trào Nha bình dân học vụ đã giải quyết được nạn dốt cho đất nước. Có thể nói, đầu tư cho giáo dục chính là đầu tư cho con người phát triển toàn diện, một sự quan tâm mang tính nhân văn cao cả. Đất nước cần nhân tài nhưng không thể có nhân tài nếu không phát triển giáo dục, quy định này đã thể hiện quan điểm này coi con người là vốn quý nhất, là động lực, mục tiêu cho sự phát triển kinh tế - xã hội.

Đã 72 năm trôi qua kể từ khi ra đời bản Hiến pháp đầu tiên, đất nước ta đã bốn lần sửa đổi Hiến pháp vào các năm 1959, 1980, 1992 và 2013, mục đích sửa đổi là để cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Mỗi lần điều chỉnh, bổ sung, sửa đổi Hiến pháp đều có sự khác nhau về số lượng các chương, điều, về nội dung các chương, điều cụ thể. Tuy nhiên, điều dễ nhận thấy nhất ở sự nhất quán của Hiến pháp Việt Nam, từ Hiến pháp 1946 đến Hiến pháp 2013 đó là sự nhất quán bền vừng từ tính chất đến giá trị nhân văn cao cả. Do đó, có thể coi Hiến pháp 1946 đã đặt nền móng cho các giá trị mà các Hiến pháp sau này kế thừa và phát triển/.

Cẩm Trang - Trường Chính trị tỉnh




[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia- Sự thật, Hà Nội, 2011,T.4,tr.7.